Huấn luyện

CƠ THỂ, SINH LÝ CỦA CHÓ

CƠ THỂ, SINH LÝ CỦA CHÓ

Ngày Đăng: 22/04/2018 - Lượt xem: 363

CƠ SỞ GIẢI PHẪU HỌC VÀ SINH LÝ HỌC CỦA CHÓ

CHƯƠNG I

CƠ SỞ GIẢI PHẪU HỌC VÀ

SINH LÝ HỌC CỦA CHÓ

  1. KHÁI NIỆM VỀ GIẢI PHẪU HỌC VÀ SINH LÝ HỌC

Giải phẫu học là một khoa học nghiên cứu về cấu tạo, sự liên hệ lẫn nhau và vị trí của các bộ phận trong cơ thể động vật. Sinh lý học là một khoa học nghiên cứu các quá trình thuộc về cuộc sống (chức năng), tính quy luật của các quá trình đó ở trong cơ thể khỏe mạnh. Kiến thức về cơ sở giải phẫu học và sinh lý học của chó có một ý nghĩa thực tiễn to lớn, đó chính là nền móng mà lý thuyết và thực hành của ngành nuôi chó nghiệp vụ phải dựa vào.

Cơ thể của các động vật cấp cao gồm những phần tử cực nhỏ như: tế bào, các cấu trúc phi bào, các chất vô định hình. Trong các tế bào có mặt hầu hết các nguyên tố hóa học có trong thiên nhiên bao la. Những nguyên tố hóa học có trong tế bào đều dưới dạng các hợp chất hữu cơ hay các hợp chất vô cơ.

Các hợp chất hữu cơ gồm có: quan trọng nhất là các abumin, các chất béo và hydrat cacbon. Các hợp chất vô cơ gồm có:  các chất khoáng và nước. Các thành phần cơ bản của tế bào gồm có protein và hạt nhân. Protein là một chất abumin không màu có cấu tạo rất phức tạp. Hạt nhân của tế bào chính là phần quan trọng nhất của tế bào, hạt nhân đóng vai trò to lớn trong việc sinh sản tế bào. Sự sinh sản tế bào diễn ra bằng con đường phân chia tế bào.

Tập hợp các tế bào và không có cấu tạo tế bào có một dạng chung về cấu trúc, về sự trao đổi chất và về kiểu thích ứng với việc thực hiện các chức năng xác định thì được gọi là mô. Trong cơ thể động vật có 4 loại mô: mô biểu bì, mô dinh dưỡng chính, mô cơ và mô thần kinh.

Mô biểu bì tiếp xúc với môi trường bên ngoài, trải khắp bề mặt bên ngoài cơ thể, các cơ quan rỗng (các khoang của chúng) và trải khắp các tuyến của cơ thể.

Mô dinh dưỡng chính thực hiện các chức năng khác nhau: chức năng trao đổi chất, chức năng bảo vệ và nuôi dưỡng, chức năng tạo máu và chức năng chính là chức năng cơ học. Trong thành phần của mô dinh dưỡng chính gồm có máu, bạch cầu, mô liên kết, mô mỡ, mô sụn và mô xương.

Mô cơ gồm có các tế bào kéo dài cấu tạo nên các thớ cơ, các thớ cơ này có đặc tính co giãn và thực hiện một chức năng nhất định.

Mô thần kinh gồm có những tế bào thần kinh, mỗi tế bào thần kinh gồm có rất nhiều nhánh. Mô thần kinh thực hiện một số lượng lớn các chức năng khác nhau rất phức tạp. Việc động vật cảm nhận được ánh sáng, âm thanh, mùi vị, v.v... liên quan đến chức năng của mô thần kinh. Mô thần kinh đảm bảo sự phối hợp các chức năng của tất cả các cơ quan, nhờ vậy mà hoạt động tâm lý của động vật được thể hiện.

Cơ quan là một phần của cơ thể gồm có các mô khác nhau và thực hiện một chức năng xác định. Một số cơ quan cùng thực hiện chung một công việc xác định đối với chúng thì tạo thành một hệ thống các cơ quan.

Trong cơ thể động vật có các hệ thống sau:

  • Hệ các cơ quan vận động;
  • Hệ các cơ quan tiêu hóa;
  • Hệ các cơ quan hô hấp;
  • Hệ các cơ quan tuần hoàn máu và bạch huyết;
  • Hệ các cơ quan bài tiết;
  • Hệ các cơ quan sinh dục;
  • Hệ các cơ quan nội tiết;
  • Hệ các cơ quan thần kinh;
  • Hệ các giác quan;
  1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN VẬN ĐỘNG

Hệ thống các cơ quan vận động gồm có bộ xương và cơ.

Bộ xương của chó được cấu tạo bởi 271-272 chiếc xương và chúng liên kết với nhau nhờ sự giúp đỡ của sụn .

Bộ xương là bộ máy thụ động của hệ thống các cơ quan vận động. Bộ xương là chỗ dựa cho cơ thể động vật; có chức năng bảo vệ các cơ quan phần mềm, tạo cho cơ thể có một hình dáng nhất định và là nơi chứa tủy xương đỏ (cơ quan tạo máu), nơi chứa muối khoáng khổng lồ.

Xương gồm có các chất đặc biệt và xốp. Trong khoang xương ống của các động vật lớn có tủy xương màu vàng chứa đầy các chất dinh dưỡng, còn trong chất xốp của xương thì chứa tủy xương đỏ.

Bên ngoài xương được bao phủ bởi một vỏ mỏng gọi là màng xương. Màng xương được cấu tạo bởi mô liên kết. Trong màng xương có rất nhiều các mạch máu và các dây thần kinh.

Bộ xương được chia ra hai phần chính là xương trục và xương ngoại biên. Trong phần xương trục gồm có xương đầu, xương mình và xương đuôi; còn trong phần xương ngoại biên thì có hai nhóm xương chi đó là nhóm xương chi trước (xương ngực) và nhóm xương chi sau (xương chậu). Ở phần xương mình được chia ra thành các bộ phận sau: xương cổ, xương ngực, xương thắt lưng và xương cùng. Mỗi bộ phận này lại có số lượng đốt sống khác nhau: đốt sống cổ - 7, đốt sống ngực – 13, đốt sống thắt lưng – 7, đốt sống cùng – 3, và đốt sống đuôi – 20 – 23. Ở phần xương ngoại biên mỗi cặp chi trước và chi sau đều gồm có các bộ phận tương ứng là xương vai, xương chậu hông và các bộ phận tự do chuyển động. Cứ một cặp xương sườn lại được nối với một đốt sống ngực. Chó có 13 cặp xương sườn. Xương ngực, xương sườn và phần ngực của xương sống hợp lại với nhau tạo thành lồng ngực để bảo vệ các bộ phận bên trong (tim, phổi)

Xương đầu (xương sọ) chứa toàn bộ não, các cơ quan thị giác, thính giác, khoang mũi và các bộ phận của khoang miệng. Tất cả các xương đầu liên kết chắc chắn với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất trừ xương hàm dưới và xương dưới lưỡi. Ở hàm trên và hàm dưới răng của chó được xếp đặt dạng vòm hàm răng. Các vòm hàm răng này dùng để táp (cắn) và nghiền thức ăn, dùng làm công cụ tự vệ cũng như để tấn công. Ở con chó đã trưởng thành, hàm răng gồm có 42 chiếc. Trong thời kỳ còn nhỏ chó có khoảng 32 răng sữa (răng tạm thời).

Đứng trên góc độ chức năng, cấu trúc và vị trí của răng, tất cả các răng của chó được chia ra làm 3 nhóm: nhóm răng cửa có 12 chiếc (mỗi hàm 6 chiếc), nhóm răng nanh có 4 chiếc (mỗi hàm 2 chiếc và nằm về hai phía của mỗi hàm), nhóm răng hàm gồm 26 chiếc (hàm trên 12 chiếc, mỗi phía 6 răng; hàm dưới 14 chiếc, mỗi phía 7 răng). Răng hàm của chó được chia ra thành: răng hàm con – răng hàm trước và răng hàm gốc – răng cố định.

Người ta xác định tuổi của chó từ một đến năm tuổi dựa vào các vấu răng. Do sự phân bố răng cửa dưới tương ứng với các răng cửa trên, nên chó cắn chặt khít.

Răng sữa của chó bắt đầu mọc sau hai tuần kể từ khi sinh ra. Trong thời gian 3 tháng rưỡi đến 4 tháng tuổi chó thay răng sữa bằng răng ổn định. Quá trình này kết thúc vào thời kỳ 8 tháng tuổi. Tất cả các răng ổn định, trừ những răng gốc, đều trải qua thời kỳ răng sữa. Các răng gốc (1 chiếc ở hàm trên, 6 chiếc ở hàm dưới)  là những răng ổn định ngay từ đầu.

Tất cá các xương của bộ xương đều liên kết với nhau. Người ta phân thành 2 kiểu liên kết xương: kiểu gắn liền và kiểu khớp. Liên kết xương theo kiểu gắn liền thường có ở các xương cố định và những xương ít vận động. Liên kết xương được thực hiện nhờ các dây chằng, sụn hoặc là nhờ các đường khớp (xương sọ, xương chậu).

Khớp xương là cái mấu mà nhờ nó giữa các xương có các khoang dạng khe. Phần lớn sự liên kết bằng các khớp xương có trong, xương thực hiện chức năng vận động. Khớp xương được tạo bởi những vành khớp xương. Các vành khớp xương lại được sụn bao phủ. Các khớp xương được bao bọc bởi nang khớp xương đi qua màng xương của 2 xương. Lớp trong của nang có rất nhiều các mạch máu và được bao bọc bởi các tế bào dẹt. Các tế bào này phân chia chất lỏng màu trắng thành ổ khớp. Chất lỏng đó gọi là hoạt dịch và đóng vai trò như một chất dầu nhờn thường trực của các mặt khớp động.

Các cơ (bắp thịt)  cấu tạo nên một hệ thống bắp thịt thực hiện chức năng vận động của động vật. Các bắp thịt, bằng những vành đối xứng, như trên hệ tay đòn, được ghép với các xương mà các xương này liên kết với nhau bởi các khớp. Khi các bắp thịt co lại thì làm cho các xương đó chuyển động.

Lực của các bắp thịt phụ thuộc vào số lượng sợi cơ chứa đựng trong các bắp thịt. Trong các cơ hoạt động có những biến đổi về hóa học và nhiệt học, cũng như vậy có sự chuyển hóa năng lượng hóa học thành năng lượng cơ học. Các bắp thịt có thể làm việc trong một thời gian nhất định, dần dần sự co của các bắp thịt yếu đi và sau đó chấm dứt sự co. Đó chính là sự mỏi cơ. Sự mỏi cơ xuất hiện là do hết năng lượng dự trữ trong quá trình làm việc của các bắp thịt và do các bắp thịt bị nhiễm độc bởi các sản phẩm của sự trao đổi chất. Để làm cho các bắp thịt lại có thể làm việc được thì chúng cần phải được nghỉ ngơi. Trong thời gian đó xảy ra sự khử các sản phẩm phân rã và bổ sung nguồn năng lượng, vật chất đã bị tiêu hao.

  1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN TIÊU HÓA

Các chất hữu cơ và các chất khoáng rất cần thiết để duy trì sự sống của cơ thể động vật. Những chất được sử dụng trong quá trình trao đổi chất là: abumin, mỡ, gluxit, muối khoáng, nước và các vitamin. Tất cả các chất này đều thâm nhập vào cơ thể động vật cùng với thức ăn. Tuy nhiên chúng vẫn chưa bị các tế bào của cơ thể tận dụng khi chưa bị phân rã hóa học trong bộ máy tiêu hóa thành các thành phần có cấu trúc đơn giản hơn, dễ hòa tan và dễ hấp thụ máu.

Hệ thống các cơ quan tiêu hóa có thể xem như là một cái ống mà bắt đầu là khoang miệng và kết thúc là hậu môn. Phụ thuộc vào các chức năng phải thực hiện ở các bộ phận khác nhau mà ở các bộ phận đó ống tiêu hóa cũng có bề rộng và cấu trúc khác nhau.

Trong hệ thống các cơ quan tiêu hóa chia ra làm 4 bộ phận: khoang miệng và hầu; dạ dày, thực quản; ruột non, gan và tuyến tụy; ruột già.

Khoang miệng là bộ phận bắt đầu của bộ máy tiêu hóa. Khoang miệng có chức năng giữ thức ăn, nghiền nát và làm ướt thức ăn bằng nước bọt, sau đó chuyền thức ăn xuống hầu. Ngoài ra trong khoang miệng còn có sự nếm thử thức ăn.

Khoang miệng gồm có các bộ phận như: 2 môi, 2 má, 2 lợi, vòm miệng cứng, vòm miệng mềm, lưỡi, các hạch hạnh nhân (amidan), và tuyến nước bọt.

Lưỡi là khối cơ có khả năng vận động rất hoạt bát nằm ở đáy khoang miệng. Lưỡi được giữ chặt bởi các cơ hàm dưới và xương dưới lưỡi. Lưỡi có rất nhiều tác dụng: xúc giác tham gia vào việc tiếp nhận nước và thức ăn lỏng, nhai lại và nuốt thức ăn, điều chỉnh và cấu tạo âm thanh (sủa).

Thức ăn trong khoang miệng được nước bọt thấm ướt. Nước bọt được tiết ra từ các cặp tuyến nước bọt lớn qua các dòng dẫn như tuyến mang tai, tuyến dưới lưỡi và tuyến dưới hàm.

Hầu – tiếp theo khoang miệng là hầu. Hầu là khoang có cấu trúc hình phên, ở đó các đường hô hấp và tiêu hóa xếp chéo nhau.

Thực quản – tiếp theo hầu là thực quản. Thực quản là cái ống bắt đầu từ hầu, đầu tiên thực quản đi xuống cổ, sau đó vào khoang ngực và tiếp theo đó đi qua cơ hoành đến khoang bụng. Tại dạ dày nó phình rộng ra dưới dạng cái phễu.

Dạ dày – là phần phình rộng ra nhất của ống tiêu hóa. Dạ dày có dạng hình túi, uốn cong và nó nằm ở phần trên của khoang bụng, chủ yếu là nằm dưới xương sườn bên trái. Dạ dày là nơi chứa đựng khối lượng thức ăn để chế biến hóa học lại từng phần. Dung tích bình thường của dạ dày chó ở mức trung bình từ 2 lít – 2,5 lít.

Thức ăn khi vào dạ dày, được các cơ co bóp (nhu động) bị khuấy trộn lên và chịu tác động của dịch vị. Sau khi chế biến kỹ lưỡng tại dạ dày thức ăn bắt đầu dần dần từng phần nhỏ một chuyền vào bộ phận tiếp theo sau đó là ruột.

Ruột là nơi thoát ra của dạ dày. Ruột chó dài khoảng 3,5m – 4m và dính chặt với cột sống nhờ sự giúp đỡ của dây chằng đặc biệt đó là mạc treo ruột. Ở mạc treo ruột các dây thần kinh, các mạch bạch huyết và các mạch máu đi tới ruột. Toàn bộ ruột chia ra làm hai phần: ruột non và ruột già.

Phần ruột non là phần chủ yếucủa toàn bộ ống ruột. Ở phần ruột non việc tiêu hóa thức ăn kết thúc và cũng ở đây các chất lấy được từ thức ăn sẽ thấm vào máu và bạch huyết nhờ có rất nhiều sợi lông phủ đầy thành niêm mạc ruột.

Gan tiết ra chất nước mật chứa trong túi mật và từ túi mật tiết vào ruột non một chất dịch đặc, sền sệt màu nâu. Chất dịch lỏng đó gọi là mật. Mật sẽ phân tách mỡ, tăng cường cho sự tác dụng của dịch tụy và dịch ruột, kích thích cho lông ruột.

Phần ruột già của ruột ngắn hơn vài lần so với ruột non và khác với ruột non là không có lông ruột. Ở phần ruột già các quá trình tiêu hóa được tiếp tục một phần nữa nhờ dịch vị chảy từruột non vào. Chủ yếu ở phần ruột già diễn ra sự hấp thụ nước với khối lượng lớn.

Phân được tạo thành ở đoạn sau của ruột già.

Phân gồm những cặn bã của quá trình tiêu hóa thức ăn, những phần biễu mô của niêm mạc bong ra, các muối, các cục nhầy và vi trùng.

  1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN HÔ HẤP

Các cơ qua hô hấp dùng để trao đổi chất khí. Sự trao đổi chất khí biểu hiện ở việc lấy ô-xy từ không khí vào cơ thể, đồng thời thải khí các-bon-nic sinh ra trong cơ thể. Các cơ quan hô hấp gồm có phổi và các đường hô hấp (khoang mũi, thanh quản, khí quản). Các cơ quan hô hấp là một hệ thống các ống. Các ống này ở đoạn sau phân thành các nhánh dưới dạng phình rộng, các manh tràng rộng tạo thành. Chỗ giãn rộng này được gọi là phế nang.

Khoang mũi được phân bố ở phía trong của phần trên của phần mặt xương sọ. Màng ngăn mũi chia mũi ra thành 2 nửa. Khoang mũi liên quan với môi trường bên ngoài qua các lỗ hở gọi là lỗ mũi và liên qua với khoang họng qua các lỗ hở gọi là các lỗ mũi sau.

Niêm mạc ở phần đầu khoang mũi được bao phủ bởi nhiều lớp biểu mô phẳng có các tế bào hình cốc. Biểu mô lông chuyên giữ không cho các phần bụi dù nhỏ của không khí lọt vào nhờ lông mũi và chúng được thải ra khỏi mũi cùng với chất nhầy. Nhờ sự có mặt của một số lượng lớn các mạch máu trong niêm mạc mà không khí đi qua mũi được sưởi ấm (từ 30 độ - 32 độ).

Ở độ sâu của khoang mũi có một bộ phận mà niêm mạc của bộ phận đó có các tế bào khứu giác. Các chất có mùi vị khi tác động vào các tế bào này thì khơi dậy một cảm giác về mùi vị.

Thanh quản là bộ phận đầu tiên của ống hô hấp. Thanh quản là bộ phận rỗng, được cấu tạo bởi sụn. Các sụn này được nối với nhau một cách linh hoạt bởi các khớp xương, các dây chằng và các cơ. Trên các thành bên của thanh quản, niêm mạc cấu tạo nên các nếp nhăn chứa các dây thanh và các cơ. Giữa các dây thanh hay còn gọi là các sụn phễu tạo thành khe gọi là khe thanh môn. Trong khi hít vào mạnh, ở điểm căng của các dây thanh xuất hiện sự rung các dây thanh nhờ đó mà tạo thành âm (giọng).

Khí quản làm nhiệm vụ dẫn không khí vào phổi và đưa khí từ phổi ra. Khí quản bắt đầu từ thanh quản đi qua cổ vào khoang ngực, ở đó trên nền của quả tim, khí quản bị chaia ra làm hai ống có kích thước nhỏ hơn đó là hai phế quản.

Phổi – đây là bộ phận chủ yếu của sự hô hấp bởi vỉ ở phổi trực tiếp diễn ra sự trao đổi chất khí giữa môi trường bên ngoài và máu. Phổi có hình dáng của chiếc nón cụt, chia ra làm 2 phần theo chiều dọc gọi là phổi trái và phổi phải. Ở mỗi lá phổi đều lần lượt bị chia ra làm nhiều phần bởi những chỗ cắt sau: phổi trái chia ra làm 3 phần, phổi phải chia ra thành 4 phần.

Phế quản: trên đường đến phổi, phế quản bị chia ra thành các phế quản nhỏ hơn nữa gọi là các tiểu phế quản. Ở vị trí các tiểu phế quản đi qu, ở các phế nang các đường hô hấp kết thúc và bắt đầu bộ phận hô hấp của phổi. Chính tại đây diễn ra sự trao đổi chất khí.

Mặt ngoài của các phế nang được bao phủ bởi một mạng lưới mao mạch máu dày đặc. Sau khi đưa khí cacbonic qua các thành phế nang và các thành mao mạch, máu được làm giàu ô xy sinh ra từ phế nang. Sau đó máu theo mạng lưới dày đặc các mạch đến các tĩnh mạch phổi và thoát ra khỏi phổi.

Tần số nhịp thở của chó ở trạng thái không vận động giao động trong 1 phút khoảng từ 14 đến 24. Tần số này tăng khi trọng tải vật lý đối với cơ thể tăng hoặc khi trời nóng. Những con chó con thở nhanh hơn.

Sự trao đổi chất khí trong cơ thể dựa vào các quy luật khuếch tán. Oxy từ các phế nang vào máu rồi đi đến tất cả các cơ quan trong cơ thể, tới từng tế bào và ở đây oxy được sử dụng vào các quá trình oxy hóa. Trong quá trình oxy hóa sinh ra khí cacbonic. Lúc đó oxy có trong các tế bào ít hơn oxy có trong máu, còn đối với khí cacbonic thì ngược lại, nghĩa là khí cacbonic có trong các tế bào nhiều hơn cacbonic có trong máu. Vì có sự khác nhau này mà giữa máu và các mô xảy ra sự trao đổi khí hay còn gọi là sự hô hấp của mô

  1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN TUẦN HOÀN MÁU VÀ BẠCH HUYẾT

Hệ thống các cơ quan tuần hoàn máu và bạch huyết thực hiện các chức năng vận chuyển các chất dinh dưỡng đến các tế bào và thải ra khỏi cơ thể các chất có hại sinh ra trong khi hoạt động để sống. Những hệ thống này bao gồm máu và bạch cầu, tim, các mạch máu, và các mạch bạch huyết, các cơ quan cấu tạo máu.

Hệ thống các cơ quan tuần hoàn bao gồm các mạch máu khép kín chứa đầy máu và một bộ máy tăng áp đó là tim. Nhờ sự làm việc không mệt mỏi của tim  và nhờ cấu tạo đặc biệt của các mạch máu mà máu luôn luôn lưu thông khắp cơ thể theo 2 vòng tuần hoàn lớn và nhỏ. Khác với hệ tuần hoàn, hệ bạch huyết thực hiện chức năng dẫn lưu tức là hút chất dịch thừa từ các mô và đưa vào máu.

Máu – đây là loại mô mỏng có màu đỏ và có vị mặn. Thành phần của máu gồm có huyết tương và các thanh tố đồng trọng lượng là huyết cầu đỏ, huyết cầu trắng và tiểu cầu. Màu đỏ của máu phụ thuộc vào hàm lượng các chất biểu hiện màu tức là chất hemoglobin. Vị mặn của máu liên quan đến lượng muối được hòa tan trong máu.

Trong cơ thể động vật máu đảm nhiệm rất nhiều chức năng khác nhau: máu đóng vai trò quan trọng trong sự trao đổi chất; máu mang các chất dinh dưỡng và nước từ ruột, mang oxy từ phổi đến tất cả các cơ quan trong cơ thể; cùng một lúc máu vận chuyển vào các cơ quan bài tiết như phổi, thận, các tuyến mồ hôi những chất không cần thiết và có hại sinh ra trong quá trình hoạt động sống của các cơ quan này.

Máu giữ cho cơ thể khỏi sự thâm nhập của các vi sinh vật và sản phẩm của các hoạt động sống của các vi sinh vật này. Các chất giữ nhiệm vụ bảo vệ có trong máu và các tế bào huyết cầu trắng thực hiện các chức năng này. Những tế bào còn lại có khả năng hấp thụ các vi khuẩn có hại thâm nhập vào cơ thể và tiêu hóa chúng.

Tính chất của máu là đông đặc và máu có chức năng bảo vệ vì tính chất đông đặc của máu có tác dụng lớn trong việc giảm sự mất máu ở vết thương của động vật.

Máu chiếm 5% - 8% trọng lượng cơ thể chó. Nếu máu bị mất nhiều thì rất nguy hiểm cho cơ thể.

Tim – là cơ quan trung tâm, là cơ quan chính đảm bảo cho dòng máu và dòng bạch cầu lưu thông trong vòng mạch khép kín. Tim là một khối cơ rỗng có dạng hình nón và nằm phần lớn phía bên trái của lồng ngực, giữa hai lá phổi, ở khoảng xương sườn thứ 4 đến thứ 7. Khoang tim bên trong bị chia ra làm hai nửa riêng biệt là nửa trái và nửa phải nhờ một vách ngăn dọc. Ở mỗi nửa của quả tim lại chia ra theo chiều ngang thành hai ngăn bởi các van tim. Ngăn trên là tâm nhĩ, còn ngăn dưới là tâm thất. Như vậy tim của chó gồm có 4 ngăn: hai tâm nhĩ và hai tâm thất. Mỗi tâm thất lại thông với tâm nhĩ phía trên nó qua một lỗ hở có van.

Trong quả tim có các mạch máu lớn ra vào, mà theo các mạch máu đó ở phía bên phải quả tim là máu tĩnh mạch đi vào, còn phía bên phải là máu động mạch đi vào. Từ tâm thất trái có một động mạch lớn nhất của cơ thể đi ra, đó là động mạch chủ. Còn từ tâm thất phải là động mạch phổi. Ở tâm nhĩ trái có một tĩnh mạch nhỏ và hai tĩnh mạch phổi nằm sát nahu dẫn vào. Còn ở tâm nhĩ phải có các tĩnh mạch lớn hay còn gọi là các tĩnh mạch rỗng dẫn vào (các tĩnh mạch trên và các tĩnh mạch dưới). Nửa tim bên trái thực hiện công việc thực sự to lớn hơn nửa tim bên phải và như vậy các cơ của nó cũng dày hơn gấp 2 đến 2,5 lần các cơ của nửa tim bên phải.

Tim làm cho máu chuyển động có nhịp và điều chỉnh chiều của dòng máu. Tim làm việc theo nhịp ở 2 pha. Pha đầu tiên kết thúc là lúc hai tâm nhĩ cũng đồng thời co bóp. Khi hai tâm nhĩ co bóp máu bị dồn xuống tâm thất. Ở pha thứ hai diễn ra sự co bóp của hai tâm thất, còn hai tâm nhĩ bị yếu đi. Khi hai tâm thất co bóp, máu dồn về động mạch chủ và động mạch phổi. Cùng một lúc máu từ các tĩnh mạch rỗng và các tĩnh mạch phổi làm đầy hai tâm nhĩ. Hai pha này tạo thành một chu kỳ làm việc của tim. Sau pha thứ hai thì có một chỗ dừng – đó là sự yếu đi chung của tim. Trong thời gian đó các cơ dường như là nghỉ ngơi. Tính đặc biệt này trong công việc của tim làm cho nó có khả năng có thể làm việc được từ 8 đến 10 tiếng trong một ngày đêm, thời gian còn lại là nghỉ ngơi.

Tim của chó bình thường có thể co bóp từ 70 đến 120 lần trong một phút.

Các mạch máu phụ thuộc vào cấu trúc của các hướng chuyển động của máu mà được chia ra làm 3 loại: các động mạch, các tĩnh mạch và các mao mạch. Các động mạch là những mạch dẫn máu từ tim ra. Các mao mạch là những mạch mảnh nhất và ngắn nhất gồm có một lớp tế bào và tạo ra đường qua lại từ các động mạch và các tĩnh mạch. Số lượng các mao mạch rất lớn, chúng xuyên qua tất cả các bộ phận để tiến đến gần như là từng tế bào. Khi tim co bóp, theo các mạch của hệ thống động mạch hình thành một sóng mạnh. Mạch của chó nhận ra tốt nhất ở động mạch đùi và số nhịp đập của mạch 1 phút là từ 70 đến 120.

Chuyển động của máu (tuần hoàn của máu) diễn ra theo một hệ thống khép kín, được tim và các mạch máu cấu tạo nên. Hệ thống này gồm có một vòng tuần hoàn lớn và một vòng tuần hoàn nhỏ.

Vòng tuần hoàn lớn bắt đầu từ tâm thất trái. Từ đây máu dồn vào động mạch chủ. Động mạch chủ được chia ra làm hai động mạch: một động mạch đi đến khoang mình và hai chi sau, còn động mạch kia thì đi đến đầu và hai chi trước. Những động mạch này chia thành nhiều mao mạch trong các mô của các cơ quan. Máu sau khi chuyển các chất dinh dưỡng và oxy qua các mao mạch vào các mô thì thu nhập các sản phẩm của sự trao đổi chất và khí cacbonic từ các mao mạch này. Các mao mạch thống nhất lại với nhau tạo thành các tĩnh mạch. Từ các tĩnh mạch máu dồn về tâm nhĩ phải theo các tĩnh mạch rỗng trên và dưới. Vòng tuần hoàn lớn kết thúc ở tâm nhĩ phải.

Vòng tuần hoàn nhỏ bắt đầu từ việc máu từ tâm nhĩ phải đổ dồn xuống tâm thất phải. Tâm thất phải trong khi co bóp dồn máu tĩnh mạch qua động mạch phổi vào các mao mạch phổi, ở đó máu thải khí cacbonic và tiếp nhận oxy rồi theo các tĩnh mạch  phổi trở về tâm nhĩ trái. Tại đây kết thúc vòng tuần hoàn nhỏ.

Từ tâm nhĩ trái máu đổ dồn xuống tâm thất trái và lại bắt đầu vòng tuần hoàn lớn khác .

Hệ thống các cơ quan tuần hoàn của bạch huyết bổ sung cho hệ thống các cơ quan tuần hoàn của máu khi nó mang chất dịch thừa tích ở các mô vào máu. Hệ bạch huyết gồm có bạch huyết, các mạch bạch huyết và các hạch bạch huyết.

Bạch huyết là một mô lỏng, gần như trong suốt và có màu vàng nhẹ, chiếm 1/5 đến 1/6 trọng lượng cơ thể. Trong thành phần bạch huyết gồm có các thành phần tạo máu đó là các bạch huyết bào. Các chất dinh dưỡng và oxy nằm trong máu trước hết được chuyển trực tiếp vào bạch huyết qua các thành mao mạch và rồi sau đó chúng lại từ bạch huyết đi tới các tế bào. Các sản phẩm được tạo ra trong việc trao đổi từ tế bào này sang tế bào khác nhập vào bạch huyết và sau đó chúng lại từ bạch huyết chuyển vào máu qua các thành mao mạch. Bằng cách này bạch huyết chính là môi trường dinh dưỡng đối với các tế bào.

Sự cấu tạo bạch huyết diễn ra bằng con đường khi huyết tương của máu thấm qua các mao mạch nằm trong khe giữa các tế bào. Bạch huyết vận động không ngừng. Sau khi đến các đầu mao mạch bạch huyết hở, bạch huyết lại đến các mạch bạch huyết và tiếp sau đó đến các mạch bạch huyết lớn dẫn đến tĩnh mạch lớn.

Các mạch bạch huyết đi qua các hạch bạch huyết. Hạch bạch huyết thực hiện chức năng cảu bộ lọc và tạo máu. Các hạch bạch huyết có hình dạng tròn với độ lớn khác nhau nằm ở các vùng nhất định của cơ thể động vật.

Các cơ quan tạo máu gồm có lá lách, tủy xương đỏ và các hạch bạch huyết. Lá lách nằm trong khoang bụng, ở bên xương sườn trái, gần phần cong của dạ dày. Trong lá lách diễn ra sự cấu tạo các bạch huyết bào và tiêu hủy các bạch cầu già. Đồng thời hạch bạch huyết còn thực hiện chức năng đối với máu. Tủy xương đỏ là bộ phận chính của việc cấu tạo máu. Huyết cầu và bạch cầu được cấu tạo trong tủy xương đỏ.

  1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN BÀI TIẾT

Các cơ quan bài tiết thực hiện các chức năng thải ra ngoài cơ thể các chất độc (các muối khác nhau v.v...) và các chất thừa (nước) có trong máu hoặc sinh ra trong quá trình trao đổi chất. Các chất bị thải ra khỏi cơ thể dưới dạng nước tiểu là chất lỏng trong suốt có màu vàng sánh, mùi khai và vị mặn.

Trong một ngày đêm một con chó trưởng thành có thể thải ra đến hai lít nước tiểu. Các cơ quan bài tiết gồm có thận, niệu quản, bàng quang và ống tiết niệu.

Thận là bộ phận cặp nằm trong khoang bụng, dưới ba đốt sống lưng đầu tiên. Việc tạo thành nước tiểu trong thận là một quá trình phức tạp. Có thể hình dung quá trình đó dưới dạng sơ đồ như sau: trong các cấu tạo đặc biệt hay còn gọi là trong các cuộn có một mạng lưới mao mạch mà ở đó máu khi đi qua thì thải các sản phẩm có hại sinh ra trong quá trình trao đổi chất. Các chất này dưới dạng nước tiểu theo các rãnh đổ vào bể thận, sau đó từ bể thận theo niệu quản đến bàng quang nằm ở dưới đáy của khaong xương chậu. Dưới tác động của sự co bóp thành cơ bàng quang, nước tiểu bị đổ vào rãnh thoát và bị tahi3 ra ngoài.

  1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN SINH DỤC

Hệ thống các cơ quan sinh dục được sử dụng để sinh sản ra thế hệ sau, nghĩa là để duy trì giống. Các cơ quan sinh dục được chia thành các cơ quan mang giới tính đực và các cơ quna mang giới tính cái.

Các cơ quan sinh dục của con chó đực bao gồm tinh hoàn, dây dẫn tinh, các tuyến tiền liệt, rãnh niệu sinh dục và thành phần giới. Tinh hoàn là tuyến giới cặp, tại tuyến này các tế bào mang giới tính đực được cấu thành và trưởng thành, spermi. Spermi nằm trong các khoang túi, tức là phần phình to ra như cái túi của thành bụng. Tuyến tiền liệt nằm ở trên cổ bàng quang. Tuyến này sinh ra các chất tiết và nhờ chất tiết đó mà sự vận động của các spermi được thúc đẩy. Rãnh niệu sinh dục được sử dụng để làm nhiệm vụ thải tiết nước tiểu và tinh dịch. Thành phần giới là cơ quan giao hợp của con chó đực được dùng làm nhiệm vụ dẫn tinh dịch vào các cơ quan mang giới tính của con chó cái, và cũng như vậy nó được dùng để bài tiết nước tiểu.

Spermi cùng với chất tiết của tuyến tiền liệt cấu tạo nên một chất lỏng quánh, nhờn, đó là tinh dịch. Trong thành phần tinh dịch có một khối lượng khổng lồ các tế bào vận động, đó là các spermi (tinh trùng).

Các cơ quan sinh dục của con chó cái bao gồm các buồng trứng, dây dẫn trứng, tử cung, âm đạo và cơ quan giới tính bên ngoài. Các buống trứng là các tuyến cặp không lớn lắm (trọng lượng gần 1 gram) nằm ở khoang bụng. Trong các buống trứng các tế bào giới tính được cấu thành và trưởng thành, đó là các tế bào trứng. Các buống trứng không có các ống thoát tế bào trứng trưởng thành, chỉ thoát ra khỏi các buồng trứng sau khi phá vỡ thành nguyên vẹn của các buồng trứng.

Sau khi thoát ra khỏi buồng trứng, tế bào trứng đổ vào túi dây dẫn trứng. Việc tế bào trứng nằm trong dây dẫn trứng chuyển đến tử cung được thực hiện là nhờ sự co bóp của lớp cơ và nhờ sự rung động của các lông biểu mô.

Tử cung là cơ quan mà ở đó diễn ra sự phát triển của tế bào trứng thụ thai thành thai. Âm đạo là một cái ống có nhiều nếp gấp, được sử dụng làm cơ quan giao hợp cũng như vậy nó là đường để sinh đẻ.

Sự giao hợp của con chó đực và con chó cái ở thời kỳ động dục xảy ra trước sự thụ tinh của tế bào trứng. Sự thụ tinh diễn ra khi gặp nhau và khi hợp nhất tế bào trứng với tinh trùng trong dây dẫn trứng. Các tế bào trứng được thụ tinh chuyển động chậm chạp đến tử cung, ở đó chúng dính chặt vào thành tử cung và bắt đầu phát triển phôi thai, sau đó phát triển thai. Thế là con chó cái có chửa, lúc đó rất nhiều biến đổi phức tạp diễn ra trong cơ thể của con chó cái.

Các tuyến sữa thực hiện chức năng nuôi dưỡng các con chó mới sinh. Con chó cái thường có 4 – 5 cặp tuyến sữa nằm ở phần bụng dưới và phần ngực của cơ thể theo 2 hàng. Sự sản sinh ra sữa ở con chó cái chấm dứt sau một tháng rưỡi đến hai tháng sau khi sinh.

  1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NỘI TIẾT

Các cơ quan nội tiết bao gồm một tổ chức các tuyến tiết ra các chất hóa học đặc biệt được gọi là hooc môn. Tính chất đặc biệt của các tuyến này là sự vắng mặt của các dây dẫn thoát. Các tuyến hooc môn được trực tiếp tạo ra trong máu và bạch huyết.

Trong các cơ quan nội tiết còn có các tuyến sau: tuyến tùng (đầu xương), tuyến yên (gipophic), tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận, tinh hoàn (ở con chó đực), buồng trứng (ở con chó cái).

  1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN LỚP DA

Hệ thống các cơ quan lớp da gồm có da và các bộ phận thứ sinh của nó là: tóc, răng, gan bàn chân, móng và các tuyến khác như: (tuyến sữa, tuyến bã nhờn, tuyến mồ hôi, tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, ...). lớp da là vỏ ngoài của cơ thể động vật, là ranh giới giữa cơ thể với môi trường bên ngoài. Da đảm nhiệm rất nhiều chức năng khác nhau: chức năng thụ cảm (ấm, lạnh, lực nén, đau), chức năng bảo vệ (bảo vệ cơ thể khỏi bị sốt cao hoặc khỏi bị lạnh), chức năng bài tiết (qua các tuyến).

Da gồm có ba lớp: lớp ngoài – biểu bì (lớp trên mặt da), lớp trong (nền da), lớp sâu – lớp dưới da (mô lỏng lẻo dưới da).

Tóc là các sợi dây mềm, có tính đàn hồi và được tạo thành từ các tế bào có chất sừng mọc ra bên ngoài da. ở chó tóc cấu tạo thành lớp lông. Các tuyến nhờn nằm ở phần da dày hơn và tiết ra chất nhờn ở da. Chất nhờn này bôi khắp mặt da và lông. Tuyến mồ hôi đóng vai trò quan trọng trong việc điều nhiệt cơ thể động vật. Ở chó điều này hầu như là không có. Tuyến mồ hôi của con chó chỉ có ở phần da của các ngón chân. Các quá trình điểu nhiệt của chó diễn ra khi chó hít thở kiểu há mồm hay khi nó hít thở kiểu lè lưỡi.

Gan bàn chân – là chỗ phình to ra ở vùng ngón chân, không có lông, có tính đàn hồi và có dạng hình gối rất thích hợp làm điểm tựa cho cơ thể và đây chính là cơ quan xúc giác.

Móng là các đầu cắm kim của các đốt cuối cùng của các ngón chân, được cấu tạo từ nang sừng và phần chủ yếu của da.

  1. HỆ THẦN KINH

Hệ thần kinh điều khiển và phối hợp tất cả các chức năng của cơ thể và tạo điều kiện cao nhất cho sự thống nhất của cơ thể. Hệ thần kinh đảm bảo sự liên hệ của cơ thể và môi trường bên ngoài.

Các chức năng cơ bản của hệ thần kinh là thị giác các kích thích khác nhau và phản ứng trả lại đối với kích thích đó. Phản ứng trả lại các kích thích khác nhau được thực hiện theo nguyên tắc phản xạ.

Cơ sở của mô thần kinh là các tế bào thần kinh hay còn gọi là nơron. Cấu tạo của nơron gồm thân và vô số tua. Trong số rất nhiều tua nhánh, ở mỗi tế bào thần kinh (nơron) có một nhánh rất dài gọi là neirit (sợi trục). Các tua ngắn của tế bào thần kinh được gọi là đuôi gai. Các sợi trục và đuôi gai được kết thúc bởi các nhánh nút tự do. Các nơron khi liên kết với nhau bằng các nhánh nút thì tạo thành các chuỗi thần kinh phức tạp.

Tế bào thần kinh nhận kích thích và xử lý rất tích cực các kích thích đó trong quá trình kích thích. Các tua thần kinh chỉ làm nhiệm vụ truyền các kích thích theo một chiều nhất định. Như thế tức là kích thích thần kinh theo đuôi gai thì đến thân của tế bào thần kinh, còn theo sợi trục thì rời khỏi tế bào. Các sợi trục của tế bào thần kinh liên kết với nhau nhờ các bó mô liên kết và tạo thành cấu trúc bó bền vững, đó là các dây thần kinh.

Toàn bộ hệ thần kinh được chia ra một cách quy ước thành hệ thân thể (thực hiện tất cả các chức năng theo ý muốn và thực hiện hoạt động thần kinh cao cấp của cơ thể) và hệ thực vật (thực hiện các chức năng không theo ý muốn, ví dụ đánh trống ngực, thở, ...).

Về phía mình, hệ thần kinh theo ý muốn lại chia ra thành hệ thần kinh trung ương (gồm đại não và tủy sống) và hệ thần kinh ngoại biên (là các dây thần kinh đi từ hệ thần kinh trung ương). Hệ thần kinh trung ương là bộ phận hoạt động thần kinh cấp cao. Thần kinh ngoại biên phân bổ thần kinh tại các cơ quan vận động thừa hành và lớp da. Hệ thần kinh không theo ý muốn chia ra thành hệ thần kinh giao cảm và hệ thần kinh phó giao cảm.

HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG

Bộ não đượ nằm trong hộp sọ não và bao gồm đại não, não bé hay tiểu não và hành não.

Đại não gồm có não trước, não trung gian và não giữa.

Não trước là hai nửa bán cầu lớn. Bán cầu phải và bán cầu trái cách nhau bởi một rãnh sâu, dọc. Trên bề mặt của bán cầu não có rất nhiều rãnh với các độ sâu khác nhau. Bề mặt của bán cầu có nhiều nếp nhăn. Các nếp nhăn này tách nhau bởi các rãnh đó.

Bán cầu đại não gồm có chất xám và chất trắng. Chất xám nằm ở mặt ngoại biên cấu tạo nên vỏ bán cầu. Chất trắng cấu tạo lớp trong của não và gồm có các bó dây thần kinh tỏa đi theo hình nan quạt đến vỏ não. Về mặt cấu trúc, vỏ bán cầu đại não có cấu tạo rất phức tạp, có bề dày đến 4 mm, gồm có 6 lớp tế bào thần kinh liên kết với nhau bằng các mấu ngắn.

Vỏ bán cầu đại não thực hiện nhiều chức năng rất quan trọng đối với sự sống của cơ thể. Sự hoạt động của tất cả các cơ quan đều chịu sự điều khiển của nó. Ở vỏ não hình thành các phản xạ có điều kiện (liên quan tạm thời) và các quá trình hoạt động thần kinh cao cấp. Các quá trình hoạt động thần kinh cao cấp này được thể hiện ở sự hướng cơ thể đến môi trường bên ngoài trên cơ sở của các phản xạ không điều kiện có được và các phản xạ có điều kiện được tạo ra. Ở vỏ bán cầu có các trung tâm phản xạ và các trung tâm điều khiển phản xạ. Các trung tâm này là các vùng được cấu tạo từ các chất xám và phụ trách các chức năng nhất định của cơ thể. Các trung tâm liên quan chặt chẽ với nhau và có sự ảnh hưởng lẫn nhau. Nhờ vậy mà hoạt động thuộc về chức năng của não diễn ra như một chỉnh thể thống nhất.

Não trung gian – còn được gọi là các gò thị giác và vùng tiểu gò được cấu tạo từ khối lượng chất xám. Ở gò thị giác tập trung tất cả các trung tâm cảm giác của cơ quan bên ngoài và bên trong. Tất cả các kích thích trước khi đến vỏ bán cầu đại não đều phải đi qua các gò thị giác. Vùng tiểu gò có các trung tâm như: trung tâm nhiệt, trung tâm mạch đập, trung tâm nội tiết và trung tâm trao đổi chất.

Não giữa được tạo bởi bốn gò. Các gò này đều có cấu tạo từ chất xám. Các gò phía trước của 4 gò liên quan với các cơ quan thính giác (sự kích thích của ánh sáng, chuyển động của mắt, nhưng không phải chính thị giác). Còn các gò sau liên quan đến các cơ quan thính giác (phản xạ với âm thanh thể hiện ở sự quay đầu và cổ, sự cảnh giác của ta).

Não bé hay tiểu não nằm ở phía trên hành não và có dạng hình cầu. Tiểu não tiếp giáp với bán cầu đại não và với 4 gò của não giữa. Bề mặt của tiểu não có cấu tạo nếp nhăn và được cấu tạo bởi chất xám. Bề mặt tiểu não cấu tạo nên vỏ tiểu não. Chức năng của tiểu não thể hiện ở sự phối hợp các chuyển động và điều chỉnh tương lực của bắp thịt.

Hành não – là phần tiếp theo của tủy sống và là phần bắt đầu của bộ não. Về mặt cấu trúc, hành não cũng tương tự tủy sống, nhưng ranh giới giữa chất xám và chất trắng không rõ ràng. Ở hành não, chất xám tồn tại dưới dạng tập hợp các tế bào riêng biệt. Ở các tập hợp tế bào có các trung tâm rất quan trọng của sự sống như: trung tâm hô hấp, trung tâm bú mút, trung tâm nôn mửa và trung tâm ho v.v...

Tủy sống nằm trong ống tủy sống. Tủy sống có cấu tạo hình sợi dây bắt đầu từ đầu não và kéo dài đến đốt xương sống thứ 7. Trên suốt phần kéo dài của tủy sống các dây thần kinh tủy sống lớn từ nó đi qua các lỗ xuyên ở xương sống.

Huấn luyện Khác

07/05/2018

HUẤN LUYỆN CHÓ DƯỚI 7 THÁNG TUỔI

NHỮNG ĐỘNG TÁC MÀ CÓ THỂ TẬP CHO CHÓ Ở ĐỘ DƯỚI 7 THÁNG TUỔI

23/04/2018

HUẤN LUYỆN CHÓ ĐI VỆ SINH ĐÚNG CHỖ

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHÓ CON ĐI VỆ SINH ĐÚNG NƠI QUY ĐỊNH

21/04/2018

VẬN CHUYỂN CHÓ

PHƯƠNG PHÁP VẬN CHUYỂN CHÓ

23/04/2018

HUẤN LUYỆN CHÓ DƯỚI 4 THÁNG TUỔI

HUẤN LUYỆN CHÓ CƠ BẢN

21/04/2018

LỊCH SỬ CHÓ PHÚ QUỐC, HISTORY PHUQUOCDOG

TÌM HIỂU VỀ CHÓ PHÚ QUỐC

12/05/2018

CÁCH ĐIỀU TRỊ CHO CHÓ BỊ ĐAU BỤNG

CÁCH ĐIỀU TRỊ CHO CHÓ BỊ ĐAU BỤNG, CHÓ BỊ TIÊU CHẢY, CHÓ BỎ ĂN, NÔN MỬA

22/04/2018

HUẤN LUYỆN CHÓ DƯỚI 3 THÁNG TUỔI

HUẤN LUYỆN CHÓ, DẠY CHÓ

14/05/2018

CHUẨN ĐOÁN CHÓ BỊ ĐAU BỤNG

NHỮNG BIỂU HIỆN GIÚP CHÚNG TA CHUẨN ĐOÁN CHÓ BỊ ĐAU BỤNG

14/05/2018

PHÒNG NGỪA ĐAU BỤNG CHO CHÓ

PHÒNG TRÁNH CHO CHÓ KHÔNG BỊ ĐAU BỤNG

0983 851 676
Hotline:0983 851 676